Trong những năm gần đây, tình hình vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ diễn biến phức tạp, đặc biệt là các vụ tai nạn giao thông có nguyên nhân từ việc người điều khiển phương tiện sử dụng rượu, bia, chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác gây ảo giác cho hệ thần kinh. Nhằm tăng cường đấu tranh phòng ngừa và xử lý nghiêm minh đối với việc sử dụng các chất kích thích đó khi tham gia giao thông gây hậu quả nghiêm trọng, Bộ luật Hình sự hiện hành đã quy định tình tiết định khung tăng nặng tại điểm b khoản 2 Điều 260 đối với trường hợp người phạm tội “trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác”.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng quy định này đang phát sinh nhiều khó khăn, vướng mắc, đặc biệt đối với việc xác định: Thế nào là “các chất kích thích mạnh khác”? và tên gọi của chúng là gì?. Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ cũng như việc truy tố, xét xử bảo đảm tính khách quan, công bằng và đúng pháp luật hình sự, nhưng đến nay vẫn chưa được hướng dẫn cụ thể, thống nhất.
1. Về quy định của pháp luật
Điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định:
“Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
...
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác”.
Có thể thấy, điều luật đã xác định ba nhóm hành vi liên quan đến chất tác động lên hệ thần kinh của người điều khiển phương tiện gồm:
- Sử dụng rượu, bia vượt mức quy định;
- Sử dụng chất ma túy;
- Sử dụng các chất kích thích mạnh khác.
Trong ba nhóm trên, “rượu, bia” và “chất ma túy” đã có căn cứ pháp lý tương đối rõ ràng. Đối với nồng độ cồn, Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ và các văn bản hướng dẫn đã quy định cụ thể về mức cấm, phương pháp đo, quy trình kiểm tra. Đối với chất ma túy, Luật Phòng, chống ma túy cùng các Nghị định của Chính phủ đã quy định danh mục cụ thể các chất ma túy, chất hướng thần và tiền chất.
Tuy nhiên, riêng cụm từ “các chất kích thích mạnh khác ” hiện chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào giải thích hoặc quy định danh mục cụ thể.
Thực tế nghiên cứu cho thấy, ngay cả các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự trước đây cũng chưa làm rõ nội hàm khái niệm này. Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 (nay tương ứng Điều 260 BLHS năm 2015) chỉ đề cập trường hợp người điều khiển phương tiện “đang trong tình trạng say do sử dụng các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng ma túy, rượu, bia”. Quy định này mô tả dấu hiệu biểu hiện bên ngoài chứ chưa xác định tiêu chí pháp lý cụ thể để nhận diện “chất kích thích mạnh khác”.
2. Một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng
- Thứ nhất, chưa có khái niệm pháp lý thống nhất:
Khó khăn lớn nhất hiện nay là pháp luật chưa đưa ra định nghĩa chính thức về “chất kích thích mạnh khác”. Theo cách hiểu thông thường, chất kích thích là những chất tác động lên hệ thần kinh trung ương, làm thay đổi trạng thái tâm lý, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của con người. Tuy nhiên, không phải mọi chất kích thích đều có tác động kích thích mạnh vào hệ thần kinh của người sử dụng mà còn liên quan đến lượng sử dụng và ngưỡng chịu đựng sự kích thích của thần kinh mỗi người và quan trọng nữa chất đó là chất gì và tên gọi như thế nào.
Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp, người điều khiển phương tiện tham gia giao thông, có biểu hiện mất kiểm soát hành vi, không làm chủ được tốc độ, phương hướng điều khiển, nhưng cơ quan chức năng khi tiến hành giải quyết vụ việc thông thường mới chỉ dừng lại ở việc thu thập chứng cứ, giám định nồng độ cồn và chất ma túy mà chưa đặt ra vấn đề giám định xem có chất kích thích mạnh khác không và chất đó là chất gì. Trong các trường hợp này, cơ quan tiến hành tố tụng lúng túng, bỏ qua việc xác định có chất kích thích mạnh khác không để làm căn cứ loại trừ hoặc áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
- Thứ hai, thiếu căn cứ để chứng minh yếu tố định khung tăng nặng:
Trong tố tụng hình sự, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng. Đối với tình tiết định khung tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh được việc: Người phạm tội đã sử dụng chất bị cấm; chất đó là “chất kích thích mạnh” và việc sử dụng chất là có thật tại thời điểm tham gia giao thông.
Tuy nhiên, trên thực tế việc chứng minh gặp rất nhiều khó khăn, nguyên nhân là do hiện nay chưa có danh mục tên gọi “các chất kích thích mạnh khác” là gì. Các cơ quan chuyên môn chủ yếu tập trung xét nghiệm nồng độ cồn, ma túy theo danh mục hiện hành. Do chưa có danh mục tên gọi của các “chất kích thích mạnh” đó nên việc thu thập chứng cứ và quy trình giám định chưa thực hiện được. Trong nhiều vụ án, cơ quan điều tra chỉ có căn cứ xác định người điều khiển phương tiện “có biểu hiện bất thường”, “không tỉnh táo”, “mất khả năng kiểm soát hành vi”, nhưng không đủ căn cứ khoa học và căn cứ pháp lý để kết luận người đó đã sử dụng “các chất kích thích mạnh khác ”. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc chứng minh tình tiết định khung tăng nặng theo quy định của Điều 260 Bộ luật Hình sự.
- Thứ ba, áp dụng pháp luật chưa thống nhất:
Do thiếu hướng dẫn cụ thể nên giữa các cơ quan tiến hành tố tụng hiện tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau. Có quan điểm cho rằng chỉ những chất thuộc danh mục chất ma túy hoặc chất hướng thần do Nhà nước cấm mới được coi là “chất kích thích mạnh khác”. Trong khi quan điểm khác lại cho rằng, chỉ cần chứng minh người điều khiển phương tiện sử dụng chất có khả năng gây mất kiểm soát hành vi và pháp luật cấm sử dụng khi tham gia giao thông là đủ căn cứ áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Sự thiếu thống nhất này dẫn đến tình trạng cùng tính chất hành vi nhưng cách xử lý khác nhau giữa các địa phương, cơ quan, đã ảnh hưởng đến nguyên tắc áp dụng thống nhất pháp luật hình sự.
3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Từ những khó khăn, vướng mắc nêu trên, tác giả cho rằng cần sớm nghiên cứu hoàn thiện quy định pháp luật theo các hướng sau:
- Một là, cần có văn bản hướng dẫn chính thức:
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hoặc liên ngành tư pháp Trung ương cần ban hành văn bản hướng dẫn, giải thích, làm rõ khái niệm “các chất kích thích mạnh khác”; xác định tiêu chí nhận diện; phương pháp chứng minh; hướng dẫn hoạt động giám định… Đây là yêu cầu cần thiết nhằm bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn.
- Hai là, cần xây dựng danh mục các chất bị cấm sử dụng khi tham gia giao thông: Hiện nay, danh mục chất ma túy đã tương đối đầy đủ, tuy nhiên chưa có danh mục độc lập đối với các chất kích thích mạnh khác. Do đó, cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu ban hành danh mục cụ thể các chất tác động đến hệ thần kinh, gây ảnh hưởng khả năng điều khiển phương tiện và bị cấm sử dụng khi tham gia giao thông. Danh mục này cần được cập nhật thường xuyên để phù hợp với tình hình xuất hiện các loại chất hướng thần, chất kích thích mới trong thực tiễn xã hội.
- Ba là, cần đồng bộ giữa pháp luật hình sự và pháp luật chuyên ngành: Hiện nay, các quy định trong Bộ luật Hình sự, Luật Phòng chống ma túy và pháp luật về giao thông đường bộ chưa thực sự thống nhất trong việc xác định các chất tác động đến khả năng điều khiển hành vi. Do đó, cần quy định đồng bộ giữa các luật chuyên ngành nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho hoạt động xử lý vi phạm.
4. Kết luận
Quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự có ý nghĩa quan trọng trong đấu tranh phòng ngừa tai nạn giao thông do người điều khiển phương tiện sử dụng chất tác động đến thần kinh. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy cụm từ “các chất kích thích mạnh khác” hiện vẫn chưa được giải thích đầy đủ, chưa có danh mục pháp lý cụ thể và chưa có hướng dẫn thống nhất của cơ quan có thẩm quyền. Điều này đã và đang gây ra nhiều khó khăn trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử; đồng thời tiềm ẩn nguy cơ áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các cấp, ngành, địa phương. Vì vậy, việc sớm ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể là yêu cầu cần thiết nhằm bảo đảm áp dụng đúng đắn quy định của Bộ luật Hình sự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm và bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự./.
Vũ Thị Lan Anh - Pvt VKSND khu vực 6 - Hưng Yên