Thực tiễn giải quyết các vụ án có bị can bỏ trốn đặt ra nhiều yêu cầu chặt chẽ về chứng cứ và thủ tục tố tụng. Qua thực tiễn giải quyết một vụ án trộm cắp tài sản xảy ra tại địa bàn thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát khu vực 3 - Hưng Yên, việc áp dụng Thông tư liên tịch số 05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC đã giúp các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật, đồng thời rút ra một số kinh nghiệm đối với Kiểm sát viên trong kiểm sát điều tra, truy tố loại án này.
.jpg)
Kiểm sát viên công bố cáo trạng tại phiên tòa xét xử vụ án trộm cắp tài sản vắng mặt bị cáo ở tỉnh Hưng Yên.
Theo kết quả điều tra xác định: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 08/10/2025, tại khu vực cổng nhà ông Phạm Văn Mạnh ở xã Đức Hợp, tỉnh Hưng Yên, Vũ Tuấn Anh, sinh năm 1995, trú tại thôn Hoàng Trạch, xã Mễ Sở, tỉnh Hưng Yên đã lén lút trộm cắp chiếc xe mô tô Honda Dream biển kiểm soát 29F4–0177 trị giá 13.830.000 đồng của gia đình ông Mạnh.
Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, đối tượng bỏ trốn khỏi địa phương và bị Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã theo luật định.
Trên cơ sở kết quả điều tra và hệ thống chứng cứ thu thập được, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh Hưng Yên đã ban hành cáo trạng truy tố Vũ Tuấn Anh về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Từ việc giải quyết vụ án nêu trên cho thấy, việc điều tra và truy tố đối với các vụ án có bị can bỏ trốn có những đặc thù nhất định so với các vụ án hình sự thông thường, đòi hỏi Kiểm sát viên phải tăng cường kiểm sát chặt chẽ các điều kiện pháp lý và thủ tục tố tụng liên quan.
Một số điểm cần lưu ý khi điều tra, truy tố vụ án có bị can bỏ trốn
Thứ nhất, cần xác định đúng điều kiện ban hành bản kết luận điều tra đề nghị truy tố và bản cáo trạng đối với bị can bỏ trốn.
Khi bị can bỏ trốn, Cơ quan điều tra phải xác minh và ra quyết định truy nã theo luật định. Trường hợp đã truy nã nhưng đến khi hết thời hạn điều tra mà vẫn không bắt được bị can và hồ sơ đã thu thập đầy đủ chứng cứ, thì Cơ quan điều tra được ban hành bản kết luận điều tra đề nghị truy tố; nếu đến khi hết thời hạn truy tố mà vẫn không bắt được bị can và có đủ căn cứ truy tố, thì Viện kiểm sát được ban hành bản cáo trạng theo thủ tục vắng mặt.
Hết thời hạn điều tra, hết thời hạn truy tố được hiểu là thời điểm kết thúc toàn bộ thời hạn tố tụng theo quy định hiện hành, bao gồm cả thời gian gia hạn (nếu có), mà tại thời điểm đó bị can vẫn chưa bị bắt theo quyết định truy nã.
Như vậy, việc ban hành bản kết luận điều tra đề nghị truy tố và bản cáo trạng đối với bị can bỏ trốn chỉ được thực hiện khi việc truy nã không có kết quả và đã hết thời hạn tố tụng tương ứng ở từng giai đoạn theo luật định.
Thứ hai, thu thập và đánh giá đầy đủ hệ thống chứng cứ của vụ án.
Trong các vụ án có bị can bỏ trốn, việc thu thập và đánh giá chứng cứ có những đặc thù nhất định. Thực tiễn có thể phát sinh hai trường hợp: bị can đã bị khởi tố và đã tham gia một số hoạt động tố tụng trước khi bỏ trốn nên hồ sơ vẫn có lời khai của bị can; hoặc bị can bỏ trốn ngay từ đầu, không thể tiến hành hỏi cung, đối chất.
Khi đó, việc chứng minh tội phạm phải dựa chủ yếu vào các chứng cứ khách quan như: lời khai của người bị hại, người làm chứng, đồng phạm; vật chứng; dữ liệu điện tử; kết luận giám định và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án.
Theo khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC, cơ quan tiến hành tố tụng chỉ được ban hành kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc cáo trạng vắng mặt bị can khi đã thu thập đầy đủ chứng cứ để làm rõ các vấn đề phải chứng minh theo Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và có căn cứ xác định bị can đã thực hiện hành vi phạm tội.
Thứ ba, kiểm sát chặt chẽ việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can.
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị can có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa. Trong trường hợp bị can bỏ trốn, không thể mời người bào chữa, nếu thân nhân của bị can từ chối việc mời người bào chữa thì cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa theo quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự, nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị can trong quá trình giải quyết vụ án.
Thứ tư, tăng cường phối hợp liên ngành trong giai đoạn điều tra.
Để bảo đảm việc giải quyết vụ án vắng mặt bị can đúng quy định pháp luật, việc phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát có ý nghĩa quan trọng.
Theo quy định của Thông tư liên tịch số 05/2025, chậm nhất 20 ngày trước khi kết thúc thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát phải tổ chức họp liên ngành để thống nhất đánh giá toàn bộ chứng cứ, tài liệu và việc tuân thủ các thủ tục tố tụng của vụ án. Nội dung cuộc họp phải được lập biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án theo quy định.
Thứ năm, kiểm sát chặt chẽ việc niêm yết các văn bản tố tụng.
Theo khoản 2 Điều 8 Thông tư liên tịch số 05/2025, trường hợp không thể giao kết luận điều tra hoặc cáo trạng cho bị can thì cơ quan tiến hành tố tụng phải niêm yết công khai tại nơi cư trú cuối cùng của bị can theo luật định.
Khi kiểm sát hoạt động này, Kiểm sát viên cần kiểm tra chặt chẽ địa điểm, thời điểm và phạm vi nội dung niêm yết. Nếu vụ án có nhiều bị can thì chỉ cần niêm yết phần nội dung của kết luận điều tra, cáo trạng liên quan đến bị can bỏ trốn.
Thứ sáu, khi xây dựng cáo trạng đối với vụ án có bị can vắng mặt, Kiểm sát viên cần căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 243 Bộ luật Tố tụng hình sự để ghi rõ lý do truy tố vắng mặt bị can.
Theo quy định tại Mẫu cáo trạng số 156 ban hành kèm theo Thông tư số 03/2026/TT-VKSNDTC, nội dung về lý do truy tố vắng mặt bị can được thể hiện tại phần kết luận của cáo trạng, bố trí ngay trước câu: “Như vậy có đủ căn cứ để xác định bị can có lý lịch dưới đây phạm tội như sau:”.
Thực tiễn cho thấy, việc xác định đúng vị trí và thể hiện rõ nội dung này không chỉ bảo đảm tuân thủ quy định hiện hành mà còn góp phần nâng cao chất lượng cáo trạng, hạn chế thiếu sót về hình thức trong quá trình ban hành.
Trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi ban hành cáo trạng, nếu vẫn không giao được cho bị can thì cáo trạng phải được niêm yết công khai theo thủ tục chung.
Từ thực tiễn giải quyết vụ án nêu trên cho thấy, trong quá trình kiểm sát điều tra, truy tố các vụ án có bị can bỏ trốn, Kiểm sát viên cần chủ động theo dõi tiến độ điều tra, kiểm sát chặt chẽ việc thu thập chứng cứ, bảo đảm đầy đủ các điều kiện pháp lý để giải quyết vụ án vắng mặt bị can, đồng thời chú trọng kiểm sát các thủ tục tố tụng bắt buộc như chỉ định người bào chữa, niêm yết các văn bản tố tụng và việc phối hợp liên ngành trước khi kết thúc điều tra, nhằm bảo đảm việc truy tố và xét xử vụ án được thực hiện đúng quy định pháp luật.
Việc áp dụng Thông tư liên tịch số 05/2025 đã tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc giải quyết các vụ án khi bị can bỏ trốn. Trong bối cảnh nhiều đối tượng lợi dụng việc bỏ trốn nhằm kéo dài hoặc cản trở hoạt động tố tụng, việc nâng cao chất lượng kiểm sát điều tra, truy tố các vụ án vắng mặt bị can có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm xử lý tội phạm kịp thời, đúng pháp luật.
Nguyễn Ngọc Minh, Đặng Huệ - VKSND khu vực 3