CHUYÊN MỤC / Hoạt động kiểm sát

Kinh nghiệm Kiểm sát trong trường hợp bị can trộm cắp tài sản chối tội

13/02/2026 | 29

Trong thời gian vừa qua, hiện tượng một số đối tượng lợi dụng sơ hở đột nhập vào các đình chùa, miếu trộm cắp tiền công đức, hoặc trộm cắp tiền tiết kiệm để trong két sắt hoặc lợn đất của một số gia đình diễn ra phổ biến. Có những đối tượng thành khẩn khai nhận, nhưng cũng có đối tượng chỉ thừa nhận trộm cắp một số tiền rất ít so với số tiền chiếm đoạt được. Trong khi đó bị hại thì không nhớ được chính xác số tiền là bao nhiêu, nếu có nhớ được thì cũng không đầy đủ.

Thông thường các kiểm sát viên dựa trên nguyên tắc suy đoán vô tội và có lợi cho bị can nên đã thoải mãn với lời nhận tội của bị can đã chiếm đoạt một số tiền rất nhỏ so với thực tế. Thực tiễn trên địa bàn khu vực 2 là một địa bàn phát triển có nhiều doanh nghiệp, nhu cầu nhân công lao động lớn, nên việc di dân cơ học những người trong độ tuổi lao động ở miền núi về thuê trọ và làm tại các công ty trên địa bàn rất nhiều. Những người này sẽ tiết kiệm một khoản tiền nhất định và cất giấu ở trong tủ, dưới đệm, trong lợn đất…Về phương pháp thủ đoạn phạm tội trộm cắp tài sản trong phạm vi bài viết này, tác giả không đề cập mà chỉ đề cập một nội dung: Làm thế nào để chứng minh được đối tượng đã trộm cắp bao nhiêu tiền? Đây là nội dung rất quan trọng bởi vì có trường hợp sẽ xác định là có tội hoặc không có tội hoặc định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm hay tái phạm nguy hiểm. Thông qua kinh nghiệm giải quyết vụ án cụ thể dưới đây tác giả muốn trao đổi với các đồng nghiệp về phương pháp, cách thức củng cố tài liệu chứng cứ để cùng nghiên cứu trao đổi.

Từ năm 2015 đến năm 2023 B.V. N là một đối tượng đã bị tòa án tuyên phạt 05 bản án về tội trộm cắp tài sản (bản án cuối cùng đã áp dụng tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự - Tái phạm nguy hiểm). Ngày 10/7/2025 lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của gia đình anh G.A. T  ở phường Thượng Hồng, tỉnh Hưng Yên. N đã trộm cắp tài sản của gia đình anh T được tiết kiệm trong lợn đất. Theo lời khai nhận của N thì N chỉ trộm cắp tiền 700.000đ trong lợn đất của anh T. Còn bị hại anh T khai số tiền trong lợn đất là hơn 8.000.000đ. Với một kinh nghiệm từng bị xét xử nhiều lần, biết cách đối phó với các cơ quan tiến hành tố tụng. Vậy trong trường hợp này Kiểm sát viên cần yêu cầu điều tra viên chứng minh thế nào để có căn cứ buộc tội đối với T số tiền hơn 8 triệu đồng.

 

Hình ảnh đối tượng chỉ vị trí đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản

Thứ nhất: Cần nghiên cứu kỹ, trình độ văn hóa, yếu tố gia đình, nhà trường, mối quan hệ bạn bè và những hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng để từ đó: rút ra quy luật, thủ đoạn phạm tội; nhân cách, bản chất của đối tượng; thủ đoạn che dấu; cách thức khai báo…, thông thường đối tượng sẽ khai báo gian dối, loanh quanh, chối tội, hoặc chỉ nhận một nội dung nhỏ. Vì vậy, khi đấu tranh sẽ không dùng phương pháp hỏi thẳng, hỏi bất ngờ mà phải dùng phương pháp hỏi rất chi tiết tỉ mỉ; hỏi vòng quanh; không đấu tranh sự mâu thuẫn giữa các lời khai hoặc bản tường trình hoặc chính trong lời khai đó. Cần hỏi về thu nhập, nghề nghiệp, số tiền có trước khi đi trộm cắp, nguồn gốc tài sản đó, sau khi chiếm đoạt được tài sản thì đi đâu,  bằng phương tiện gì, ăn uống sinh hoạt, nhà nghỉ thì ở nhà nghỉ nào? Mua sắm đồ vật gì? ở đâu, số tiền chi phí cụ thể từng khoản là bao nhiêu? Các lần hỏi cứ để đối tượng tự trình bày để sau đó đánh giá tất cả lời khai và cộng tổng số tiền đã chi phí thì sẽ ra tương ứng với chi phí khoản tiền trộm cắp. Tuyệt đối không đặt câu hỏi là trộm cắp số tiền bao nhiêu bởi vì nếu đặt câu hỏi vậy thì vô hình chung chúng ta đã ấn định đối tượng chỉ trộm cắp số tiền đó. Căn cứ vào lời khai đối tượng sẽ tiến hành rà soát, trích xuất các camera ở nhà nghỉ, hoặc hàng ăn mà đối tượng đã đến, xác minh khoản chi phí. Một đặc điểm nếu đối tượng đã bịa đặt thì sẽ không thể nhớ chi tiết được, cứ một khoảng thời gian 10 ngày sẽ hỏi một lần, đã là bịa đặt thì lần khai báo sau sẽ không thể nhớ được lần trước đã khai báo cái gì để sau này làm căn cứ bác lời khai của đối tượng tại tòa.

Thứ hai: Đối với bị hại: Cần làm rõ nghề nghiệp, thu nhập, tạm ứng thu nhập của các thành viên trong gia đình để hình thành nguồn thu, chi phí sinh hoạt như điện, nước, tiền thuê nhà hàng tháng… sự tiết kiệm có mang tính thường xuyên, mục đích của việc tiết kiệm để có kế hoạch làm gì? những lần tiết kiệm bỏ vào lợn có ai chứng kiến, thời điểm và thời gian? kể chuyện với ai về việc này? Số tiền tiết kiệm được bao nhiêu?...

 

Người làm chứng: mối quan hệ, thói quen sinh hoạt? Có được nghe kể lại hoặc chứng kiến trực tiếp về việc tiết kiệm, thói quen tiết kiệm? Thời điểm kể, số tiền tiết kiệm từng đợt là thế nào? Mục đích của việc tiết kiệm đó. Các khoản thu nhập được hình thành từ đâu? Ai là người trả khoản tiền thu nhập đó? Thời điểm trả? Chuyển khoản hay bằng tiền mặt. (nếu chuyển khoản cần tra cứu tài khoản); có việc tạm ứng lương không? Mức tạm ứng, thời điểm tạm ứng. Căn cứ vào lời khai của bị hại, người làm chứng xẽ xác minh các khoản chi phí, thu nhập của bị hại để từ đó đánh giá có coi là tài liệu chứng cứ hay không? Đối với trường hợp trộm cắp tiền ở hòm công đức cần trích xuất camera kiểm tra xem có bao nhiêu đoàn đến kể từ thời điểm mở hòm công đức lần trước. Tiến hành xác minh các đoàn đã cúng tiến; lời khai số tiền cụ thể từng người là cúng tiến theo từng người hay theo đoàn? Từ đó cộng tổng số tiền có trong hòm công đức.

Thứ ba: Việc đánh giá chứng cứ: Theo quy định của BLTTHS về đánh giá những tài liệu nào, những nội dung nào, những vật chứng có những thuộc tính của chứng cứ  hay không thuộc về thẩm quyền của những người tiến hành tố tụng. Đánh giá lời khai của đối tượng chúng ta sẽ tìm được mâu thuẫn, tiền hậu, bất nhất ngay trong chính lời khai hoặc giữa các lời khai, bản tường trình tại các thời điểm khác nhau. Từ đó đưa ra nhận định đối tượng đã khai báo gian dối, không trung thực, không đúng sự thật khách quan, để loại trừ những lời khai này. Tuy nhiên cũng không thể loại trừ một cách toàn bộ, sạch trơn mà phải nghiên cứu kỹ bởi vì trong các lời khai đó vẫn còn có hàm lượng về sự trung thực nhất định hoặc một phần nào đó. Những nội dung này và phần này lại phù hợp với tài liệu chứng cứ khác thì được coi là chứng cứ để buộc tội hoặc gỡ tội. Còn đối với bị hại cũng cần phải nghiên cứu những yếu tố nhân thân, trình độ học vấn, môi trường, dân tộc, gia đình để từ đó đánh giá có sự khai quá nên của bị hại hay không? Những nội dung nào được dùng làm chứng cứ buộc tội, những nội dung nào là chứng cứ gỡ tội? Những chứng cứ nào không khách quan. Từ đó kết luận chính xác số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt.

Chính từ phương pháp như nêu trên, quá trình kiểm sát điều tra cũng như xét hỏi, tranh luận, đối đáp tại phiên tòa mà bị cáo đã thừa nhận đã trộm cắp của bị hại số tiền hơn 8 triệu đồng. Và hội đồng xét xử đã tuyên phạt bị cáo 5 năm tù giam với tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự Tái phạm nguy hiểm.

Trên đây là một số kinh nghiệm kiểm sát trường hợp đối tượng trộm cắp chối tội. Tác giả nêu ra để các đồng nghiệp cùng nghiên cứu trao đổi và vận dụng trong thực tiễn.

Tác giả

Nguyễn Minh Tiến – Viện KSND Khu vực 2 Hưng Yên


Thông tin nội bộ